16:53 | 28/06/2013
(TGĐA) - “Những ảo tưởng đã mất” và “chủ nghĩa yêu nước mù quáng” gần như chiếm ưu thế trong các bộ phim Hollywood nói về chiến tranh Việt Nam sau khi chiến tranh đã kết thúc. Điện ảnh Mỹ không thể bỏ qua những câu chuyện buồn của cuộc chiến tranh, đặc biệt là số phận của các cựu binh Mỹ. Chiến tranh Việt Nam đã làm Hollywood thức tỉnh khi nhận thức được rằng: không phải cuộc chiến nào nước Mỹ cũng có thể thắng.
Nhìn cuộc chiến dưới “góc độ con người” thay vì ý thức hệ chính trị
Hollywood với những bộ phim chiến tranh “vuốt đuôi chính phủ”
Trong phần lớn cuộc chiến tranh do chính phủ Mỹ phát động hay tham gia, Hollywood đều có những đóng góp tích cực và “vô điều kiện” để ủng hộ cuộc chiến bằng nhiều cách khác nhau: từ giải thích nguyên nhân chiến tranh đến việc phô bày bản chất độc ác của kẻ thù; từ quảng bá cho sự hy sinh của người lính Mỹ đến tầm quan trọng của “cuộc chiến tâm lý” ngay trong lòng nước Mỹ. Phim truyện nhựa cung cấp cho người dân Mỹ không trực tiếp tham chiến nhiều hình ảnh thực tế của chiến trường, vì chúng thường gồm cả những thước phim tài liệu quay tại chỗ. Sử dụng các phương tiện sẵn có, kỹ nghệ điện ảnh Mỹ cố giải thích cho công chúng Mỹ về cuộc chiến dưới góc độ “yêu nước” và đóng vai trò một cơ quan không chính thức của chính phủ. Trong hai cuộc Chiến tranh Thế giới năm 1917 và năm 1941, chính phủ Mỹ không cần can thiệp vào hoạt động của kỹ nghệ điện ảnh vì nó luôn “hùa” theo “quốc sách chiến tranh” của chính phủ. Nói rõ hơn là Hollywood tham gia trò chơi chiến tranh theo cách của… chính phủ với sự tận hiến “tự đáy lòng”. Cuộc chiến tranh Triều Tiên và hai cuộc chiến tranh thế giới đã thể hiện rõ xu hướng này. Ý thức hệ bị chủ nghĩa chống phát xít và “nước Mỹ trên hết” lấn lướt. Uỷ ban “Un-American” của Nhà trắng, thành lập để trừng phạt những người Cộng sản đã được sự hỗ trợ đắc lực của những tay “săn phù thủy” trong Hollywood nhằm bóp chết các cá nhân và tổ chức bất đồng chính kiến từ trong trứng nước. Nếu có bộ phim nào dám phê phán sự liên quan của nước Mỹ vào chiến tranh thì nó cũng không được khán giả Mỹ chấp nhận trong tình hình “Những giá trị bảo thủ truyền thống” và niềm tin vào “Giấc mơ Mỹ” còn quá mạnh. Ai thách thức sức mạnh ưu việt của nước Mỹ sẽ khó có đất sống.
Bước ngoặt từ cuộc chiến Việt Nam
Tuy nhiên, không lâu sau khi Mỹ liên quan đến cuộc chiến Việt Nam, các lực lượng mới có tiếng nói độc lập hơn bắt đầu ảnh hưởng đến phim ảnh Hollywood. Thậm chí họ không cho phép nó tiếp tục biện bạch cho chiến tranh, khuyến khích chiến tranh và giải thích nó theo quan điểm của chính phủ. Đến giữa thập niên 1960, một số phim Hollywood bắt đầu nêu lên những “góc khác” của cuộc chiến. Có khoảng 50 phim lấy chủ đề chiến tranh Việt Nam được làm từ 1963-1973. Phim chiến tranh vẫn mang lại doanh thu khá, nhưng chỉ khi nào nó không nói về chiến tranh Việt Nam. Đây là bước chuyển mới mẻ mà các hãng phim Mỹ xem là “bài học cần thuộc” khi làm phim về các tranh chấp tại Đông Nam Á. Các chiến thuật “vuốt đuôi” kiểu cũ đã lỗi thời, không còn câu được khán giả. Vì vậy, cần có chiến thuật mới. Trong thập niên 1950, chỉ có vài bộ phim hành động khai thác bối cảnh “sự phát triển của Chủ nghĩa Cộng sản” tại khu vực Đông Dương. Đó là các phim như China Gate (1957) do Sam Fuller đạo diễn và Five Gates to Hell (1959) do James Clavell đạo diễn, đều nói về các “người hùng” Mỹ đương đầu với “du kích Cộng sản” hay “sứ quân” cát cứ. Đến giữa thập niên 1960, Đông Nam Á chỉ mới là một môi trường mới lạ để Hollywood làm những bộ phim tuyên truyền thời Chiến tranh Lạnh, thay thế cho môi trường châu Âu đã nhàm chán. Phải chờ đến năm 1965, năm mà người lính Mỹ đầu tiên đến Nam Việt Nam, kỹ nghệ điện ảnh Mỹ mới bắt đầu nhập cuộc trên một chiến trường mới.

Green Beret bị các nhà phê bình chê là bộ phim ngớ ngẩn về chiến tranh
Chiến tranh Việt Nam, “sân chơi khó nhai” cho điện ảnh Mỹ
Trong số những bộ phim đầu tiên của giai đoạn này có To the Shores of Hell (1965) của đạo diễn Will Zens, một bộ phim nặng tính tuyên truyền kể câu chuyện về một người lính lồng trong những biến cố lớn khi lính thuỷ đánh bộ Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng vào tháng 3.1965. Zens sử dụng thêm những thước phim tài liệu chính thức do Bộ Quốc phòng Mỹ cung cấp để tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện hơi nhạt: một lính thuỷ đánh bộ cứu một bác sĩ bị Việt Cộng bắt. Bộ phim kinh phí thấp, đậm chất tuyên truyền xuyên tạc, tố cáo kẻ thù cưỡng hiếp tra tấn đến nỗi nông dân phải phản kháng và chính phủ Mỹ phải…ra tay nghĩa hiệp. To the Shores of Hell được xem là thất bại nặng của Hollywood khi nó định áp dụng “công thức phim chiến tranh cũ” cho cuộc chiến Việt Nam. Bộ phim cố làm cho khán giả tin rằng, với ưu thế vượt trội về vũ khí, quân đội Mỹ “cuối cùng sẽ thắng”. Các nhà hoạt động chống chiến tranh và chống can thiệp đã phê phán kiểu anh hùng của To the Shores of Hell. Tuy nhiên, đây là bộ phim dẫn đường cho bộ phim The Green Beret làm 3 năm sau đó do diễn viên nổi tiếng John Wayne đóng vai chính. Khi đưa Wayne, một kẻ chống cộng cuồng tín và thích mô tả mình như người yêu nước trong bộ phim The Alamo, ý định của các nhà làm phim rất rõ, đặc biệt là khi Patrick, con trai của Wayne có chân trong nhóm sản xuất. Wayne ủng hộ cuộc chiến của Mỹ và từng đến Việt Nam trong 2 năm 1966-67 để “lên dây cót” tinh thần binh lính Mỹ. Thật không may cho ông ta, trong một nước Mỹ đang chia rẽ, bộ phim không được đón nhận, bất chấp việc kịch bản làm kỹ, có nhiều ngôi sao tham gia, tiền bạc đổ vào thoải mái và có quân đội Mỹ trợ giúp với đủ loại khí tài quân sự hiện đại nhất. Như vậy, câu hỏi tại sao Mỹ tham chiến tại Việt Nam đã không được trả lời thoả đáng qua bộ phim này. Nội dung “khó nuốt” nhất trong phim là cảnh một nhà báo chống chiến tranh đi theo lực lượng đặc biệt của Wayne, và anh ta đã quay sang ủng hộ chiến tranh sau khi chứng kiến các hành động tàn bạo của kẻ thù!

To the Shores of Hell - Một thất bại nặng nề của điện ảnh Mỹ khi đề cập đến chiến tranh Việt Nam
Năm 1968, Hollywood tan vỡ ảo tưởng về một nước Mỹ “bất khả chiến bại”
Sau Wayne, những diễn viên đóng Mũ nồi Xanh khác là Robert De Niro trong Taxi Driver (1976), Sylvester Stallone trong First Blood (1983) và đỉnh cao là Stallone với vai “siêu lính” Rambo. Green Beret bị các nhà phê bình chê là ‘ngớ ngẩn”, “đơn giản hoá và làm dị dạng cuộc chiến”. Các sinh viên học sinh Mỹ tẩy chay dù phim vẫn đi theo hướng của các bộ phim chiến tranh kiểu Mỹ. Họ không chấp nhận được việc bộ phim chê một bộ phận giới trẻ Mỹ “thiếu thông tin”, “không hiểu đúng những gì đang xảy ra tại Việt Nam” và “tin theo lời tuyên truyền của kẻ thù”. Đến năm 1968, kỹ nghệ điện ảnh Mỹ nhận thức được rằng “không còn cơ hội để làm những bộ phim chiến tranh tuyên truyền kiểu cũ nếu muốn có khán giả”. Chưa bao giờ kể từ sau cuộc nội chiến (Civil War), điện ảnh Mỹ bị chia rẽ trầm trọng về quan điểm đối với chiến tranh như lúc này. Cuộc tấn công Tết Mậu thân 1968 như “giọt nước tràn ly”, làm cho nhiều người Mỹ tin rằng “không phải cuộc chiến nào Mỹ cũng thắng”. Trong tình hình này, Hollywod không thể bỏ qua sự lan rộng của phong trào phản chiến. Kỹ nghệ điện ảnh Mỹ làm sao ủng hộ cuộc chiến Việt Nam được khi ngay cả tổng thống Mỹ cũng phải lên truyền hình kêu gọi dân chúng “đồng lòng” và ngay trong chính phủ cũng có “những ý kiến khác”. Hollywood không còn “tận tụy” với phim chiến tranh Việt Nam, cho dù là phim không mang màu sắc chính trị. Truyền hình lấn lướt điện ảnh, vì TH cập nhật thường xuyên những đoạn phim cảnh báo về “sự xa vời của chiến thắng”. Kỹ nghệ điện ảnh Mỹ do tư nhân nắm giữ và điều phối, không nhận được trợ cấp của chính phủ nên các nhà làm phim không thể tung ra những đứa con không có khả năng mang về lợi nhuận. Họ phải bảo vệ sự an toàn và phản ảnh ý kiến của đa số.
Chiến tranh Việt Nam ảnh hưởng nặng đến điện ảnh Mỹ

Medium Cool hé lộ một phần sự thật còn che giấu về cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam
Sau năm 1960, Hollywood thực sự gặp khó khăn khi số khán giả giảm và nhiều hãng phim phải giải thể. Môt cuộc khảo sát năm 1970 của tuần báo Newsweek cho thấy 62% khán giả ở độ tuổi dưới 30 có mặt thường xuyên rạp hát. Đây là nhóm tuổi bị động viên và tham gia tích cực nhất vào phong trào phàn chiến. Họ muốn điện ảnh trả lời những nghi ngờ của họ về “bản chất cuộc chiến” và bóc trần những dối trá của chính phủ. Để làm vậy, Hollywood phải sử dụng những thước phim tài liệu mang tính tố cáo cho các bộ phim chiến tranh như Wild Angels (1966) và Petulia (1968). Các bộ phim Alice's Restaurant (1969) và Medium Cool (1969) đều muốn mô tả phần nào sự thật “ẩn dấu” của chiến tranh. Lực lượng sinh viên của phong trào chống chiến tranh là tâm điểm của bộ phim The Strawberry Statement, Getting Straight and Summertree công chiếu năm 1970. Sau 1975, Hollywood bắt đầu bình tĩnh hơn để nhìn lại cuộc chiến Việt Nam khi nó đã qua. Thành công nhất là bộ phim Taxi Driver (1976) nói về cựu binh lực lượng đặc biệt Travis Bickle bị ám ảnh bởi nạn tham nhũng tại New York nên đã đứng lên tiến hành “cuộc chiến một người” chống lại những kẻ xấu. Bộ phim TH Kent State (1981) dưới dạng phim tư liệu mô tả lại cuộc thảm sát tại Đại học Kent khi Cảnh vệ Quốc gia bắn chết 4 sinh viên biểu tình hoà bình là một cách xới lại vấn đề về các sai lầm của chính phủ Mỹ. Nhưng vẫn có rất ít nỗ lực nghiêm túc để phám phá ảnh hưởng tiêu cực của chiến tranh Việt Nam đối với những người lính điển hình. Bộ phim The Ninth Configuration (1979) là một trong những phim nói về hậu quả người lính Mỹ phải gánh chịu sau khi chiến tranh kết thúc. Thể loại phim này thu hút khán giả vì nó nhìn cuộc chiến dưới “góc độ con người” thay vì ý thức hệ chính trị. Năm 1981, nghiên cứu đầu tiên về cựu binh Mỹ được xuất bản cho thấy có 24% cựu binh Mỹ tại Việt Nam từng bị bắt vì phạm tội lúc đã về nhà và những ám ảnh của cuộc chiến có thể dẫn đến chấn thương tâm lý kéo dài hơn 10 năm. 60% cựu binh tự nhận mình là người phản chiến hoặc không hiểu lý do tại sao họ phải chiến đấu. Nhưng trở về nhà họ lại bị qui chụp là “quân giết người” hay “phải chịu trách nhiệm về sự thất bại của nước Mỹ”.
Lê Tây Sơn
Đường dẫn: https://thegioidienanh.vn/chien-tranh-viet-nam-va-nhung-tac-dong-len-ky-nghe-phim-my-511.html
© Copyright 2022 Hội điện ảnh Việt Nam