https://thegioidienanh.vn/

Diện mạo điện ảnh Việt Nam thời Đổi mới: Câu chuyện qua góc nhìn của các chuyên gia

20:04 | 29/06/2026

(TGĐA) - Chiều 29/6, trong khuôn khổ Liên hoan phim châu Á Đà Nẵng lần thứ Tư (DANAFF IV), hội thảo “Diện mạo điện ảnh Việt Nam thời Đổi mới” diễn ra tại Furama Resort Đà Nẵng, quy tụ các nhà quản lý, nhà nghiên cứu, phê bình, đạo diễn, nghệ sĩ và những người hoạt động trong lĩnh vực điện ảnh.

Thảm đỏ khai mạc DANAFF IV: Đà Nẵng rực sáng trong đêm hội điện ảnh châu Á Thảm đỏ khai mạc DANAFF IV: Đà Nẵng rực sáng trong đêm hội điện ảnh châu Á
Khai mạc Liên hoan phim Châu Á Đà Nẵng lần thứ Tư (DANAFF IV): Đầy cảm hứng và dấu ấn điện ảnh Khai mạc Liên hoan phim Châu Á Đà Nẵng lần thứ Tư (DANAFF IV): Đầy cảm hứng và dấu ấn điện ảnh

Hội thảo “Diện mạo điện ảnh Việt Nam thời Đổi mới” tại DANAFF IV là dịp nhìn lại chặng đường chuyển mình của điện ảnh Việt từ cơ chế bao cấp sang thị trường, từ những tìm tòi nghệ thuật đến bài toán công nghiệp, khán giả và hội nhập quốc tế.

Diện mạo điện ảnh Việt Nam thời Đổi mới:
TS. Ngô Phương Lan, Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam, Giám đốc DANAFF phát biểu định hướng hội thảo

Tham dự hội thảo có PGS.TS Tạ Quang Đông, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; bà Trần Thị Phương Lan, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Văn nghệ, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; ông Đặng Trần Cường, Cục trưởng Cục Điện ảnh; bà Lê Thị Hà, Viện trưởng Viện Phim Việt Nam; bà Trương Thị Hồng Hạnh, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng; TS. Ngô Phương Lan, Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam, Giám đốc DANAFF IV; bà Lý Phương Dung, Phó Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam; cùng các Ủy viên Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Hiệp hội. Hội thảo còn có sự góp mặt của nhiều nhà nghiên cứu và giảng viên uy tín như PGS.TS Hoàng Cẩm Giang, Trưởng Khoa Điện ảnh và Nghệ thuật đại chúng, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; PGS.TS Phạm Xuân Thạch, Giảng viên cao cấp Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; TS. Mai Anh Tuấn; PGS.TS Nguyễn Thị Hà Lê; cùng khách mời quốc tế Jérôme Baron, Giám đốc nghệ thuật Liên hoan phim Ba Lục Địa Nantes và đại diện các sở, ban, ngành, các trường đại học, cao đẳng, các hội chuyên ngành, nhà làm phim, nhà sản xuất, nghệ sĩ và các cơ quan thông tấn báo chí từ Trung ương đến địa phương.

Không chỉ là một hoạt động chuyên môn của DANAFF IV, hội thảo còn gợi lại một chặng đường quan trọng của điện ảnh Việt Nam: gần 40 năm chuyển mình cùng đất nước sau công cuộc Đổi mới. Từ cơ chế bao cấp sang thị trường, từ những bộ phim nặng tính phản ánh hiện thực đến các tác phẩm thương mại có doanh thu lớn, điện ảnh Việt đã đi qua nhiều thay đổi về cách làm phim, cách kể chuyện và cách tiếp cận khán giả.

Phát biểu định hướng hội thảo, TS. Ngô Phương Lan, Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam, Giám đốc DANAFF, nhấn mạnh rằng sau năm 1986, điện ảnh Việt Nam cũng chuyển đổi theo quỹ đạo chung của đất nước. Đến cuối những năm 1980, đầu 1990, việc xóa bỏ bao cấp và vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã tạo ra nhiều biến động trong sản xuất, phát hành và phổ biến phim. Bà cũng nhìn nhận, dù từng có giai đoạn “phim mì ăn liền” lấn át đời sống điện ảnh, những giá trị đích thực của điện ảnh thời Đổi mới vẫn là các điểm sáng không thể phủ nhận. Nhiều tác phẩm của giai đoạn này ghi dấu bởi cách nhìn thẳng vào đời sống, đi sâu vào những góc khuất xã hội, phản ánh bi kịch, khát vọng và số phận con người bằng một tinh thần táo bạo hơn trước.

PGS.TS Tạ Quang Đông, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, khẳng định gần 40 năm Đổi mới đã tạo nên bước chuyển quan trọng cho điện ảnh Việt Nam, từ cơ chế bao cấp đến hội nhập quốc tế. Ông nhấn mạnh điện ảnh không chỉ là nghệ thuật mà còn là ngành công nghiệp văn hóa, góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam và cần tiếp tục đổi mới để nâng cao năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên số.

Diện mạo điện ảnh Việt Nam thời Đổi mới:
Quang cảnh hội thảo

Tiếp nối câu chuyện về những chuyển động của điện ảnh Việt thời Đổi mới, đạo diễn - nhà sản xuất Nguyễn Hoàng Điệp mang đến góc nhìn từ chính hành trình làm phim độc lập của mình qua tham luận Từ Đập cánh giữa không trung đến 1982: "Từ Đập cánh giữa không trung (2014) đến 1982 (2026) là hành trình thực tế của một đạo diễn độc lập thuộc thế hệ đầu tại Việt Nam. Phim đầu tay gặt hái được thành công quốc tế và sự đón nhận tích cực của phòng vé trong nước, từ đó dường như ngầm xác nhận rằng mô hình sản xuất hợp tác quốc tế, dựa chủ yếu vào nguồn lực bên ngoài là con đường khả thi. Tuy nhiên, quá trình thực hiện phim thứ hai 1982 đã trở thành một bài học khắc nghiệt về khoảng cách giữa giấc mơ và hiện thực. Tham luận chia sẻ hành trình của một người viết từ một ‘dreamer’ tràn đầy hy vọng sau thành công ban đầu, đến giai đoạn vỡ mộng, thử thách kéo dài và cuối cùng là sự chuyển mình bắt buộc nhưng rất cần thiết: từ việc phụ thuộc lớn vào nguồn lực bên ngoài sang nỗ lực tìm kiếm, xây dựng và cùng có nguồn lực quốc nội, đồng thời tận dụng đà phát triển của thị trường nội địa cùng sự bùng nổ của điện ảnh độc lập Việt Nam tại các liên hoan phim quốc tế".

Ở một hướng tiếp cận khác, TS. Mai Anh Tuấn nhìn diện mạo điện ảnh Việt Nam sau Đổi mới qua sự phát triển của thể loại phim. Trong tham luận Sự phát triển của điện ảnh Việt Nam nhìn từ thể loại phim, ông cho rằng từ sau năm 1986, đặc biệt trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, điện ảnh Việt Nam không còn bó hẹp ở một vài dòng phim quen thuộc mà ngày càng mở rộng về thể loại. Bên cạnh hài, tình cảm, chính kịch hay chiến tranh - sử thi, thị trường đã xuất hiện nhiều phim hành động, lịch sử - cổ trang, phiêu lưu, tiểu sử, ca nhạc, kinh dị và cả phim hài - lãng mạn. Sự đa dạng ấy không chỉ cho thấy nhu cầu giải trí ngày càng phân hóa của khán giả, mà còn phản ánh sự thay đổi trong tư duy làm phim của đạo diễn, nhà sản xuất Việt Nam.

Diện mạo điện ảnh Việt Nam thời Đổi mới:

Đáng chú ý, tham luận nhấn mạnh rằng thể loại phim không chỉ là “cái vỏ” để phân loại tác phẩm, mà còn là nơi thể hiện mối quan hệ giữa người làm phim, thị trường và khán giả. Một bộ phim thể loại muốn thuyết phục công chúng không thể chỉ có ý tưởng hay, mà còn phải đáp ứng các yêu cầu về công nghệ, kỹ thuật, nhịp kể và cảm giác thể loại. Chẳng hạn, phim chiến tranh nếu thiếu quy mô dàn dựng, khí tài, cháy nổ và không khí trận mạc sẽ khó tạo được sức nặng; phim hành động cần nhịp dựng, võ thuật, âm thanh, kỹ xảo đủ tốt; trong khi phim kinh dị, tâm lý hay tình cảm lại đòi hỏi khả năng chạm tới những bất an, tổn thương và nhu cầu cảm xúc rất cụ thể của khán giả đương đại.

Từ những trường hợp như Địa đạo, Mưa đỏ, Hai Phượng, Thanh Sói, Tử chiến trên không cho đến các phim hài, tâm lý, tình cảm từng đạt doanh thu cao, TS. Mai Anh Tuấn cho rằng thành công phòng vé gần đây của điện ảnh Việt gắn chặt với sự đa dạng hóa thể loại. Không chỉ các dòng phim vốn quen thuộc như hài - tình cảm hay tâm lý gia đình, những thể loại từng bị xem là khó làm, tốn kém hoặc kén khách như chiến tranh, hành động, kinh dị cũng đang dần tìm được vị trí riêng. Điều này cho thấy điện ảnh Việt đang chuyển từ một nền điện ảnh đơn thể loại sang giai đoạn phong phú hơn, nơi mỗi thể loại đều có thể trở thành cách tiếp cận khán giả và mở rộng năng lực sản xuất của thị trường. Từ góc nhìn này của TS. Mai Anh Tuấn đã đặt ra một vấn đề nóng hổi được tranh luận mạnh mẽ, đó là việc muốn xây dựng một ngành công nghiệp điện ảnh đúng nghĩa, điện ảnh Việt không thể chỉ trông chờ vào một vài công thức ăn khách nhất thời, mà cần tiếp tục mở rộng, hoàn thiện và chuyên nghiệp hóa các dòng phim khác nhau. Chính sự phong phú về thể loại sẽ là nền tảng để điện ảnh Việt vừa chinh phục thị trường trong nước, vừa có thêm khả năng bước ra không gian quốc tế.

Diện mạo điện ảnh Việt Nam thời Đổi mới:

Từ câu chuyện thể loại, PGS.TS Phạm Xuân Thạch tiếp tục mở rộng thảo luận sang sự chuyển dịch trong ngôn ngữ điện ảnh Việt Nam đương đại. Qua việc khảo sát hành trình sáng tạo của ba đạo diễn Đặng Nhật Minh, Bùi Thạc Chuyên và Phan Đăng Di, tham luận cho thấy điện ảnh Việt sau Đổi mới không chỉ thay đổi ở đề tài hay mô hình sản xuất, mà còn biến chuyển sâu trong cách nhìn, cách kể và cách tổ chức cảm xúc trên màn ảnh. Theo PGS.TS Phạm Xuân Thạch, nếu điện ảnh của Đặng Nhật Minh vẫn gắn nhiều với cấu trúc tự sự, nơi câu chuyện thường xoay quanh một nhân vật trung tâm và các hình ảnh mang đậm tính ký ức, biểu tượng văn hóa, thì đến Bùi Thạc Chuyên và Phan Đăng Di, điểm nhìn điện ảnh bắt đầu trở nên phân tán, linh hoạt và nhiều khoảng trống hơn. Người xem không còn chỉ đi theo một hành trình nhận thức rõ ràng, mà được đặt vào trạng thái quan sát, cảm nhận, tự kết nối các mảnh đời sống, không gian và cảm xúc.

Tham luận cũng nhấn mạnh sự thay đổi trong nhịp dựng, khuôn hình và âm thanh. Từ chỗ chủ yếu phục vụ câu chuyện, hình ảnh và âm thanh trong nhiều bộ phim đương đại dần trở thành một phần của trải nghiệm điện ảnh. Những khoảng lặng, tiếng động đời thường, không gian đô thị, căn phòng chật hẹp hay tiếng máy móc không chỉ làm nền, mà trực tiếp tạo nên cảm giác sống của nhân vật. Đây được xem là một biểu hiện đáng chú ý của quá trình điện ảnh Việt chuyển từ lối kể chuyện tuyến tính sang một hình thức giàu tính trải nghiệm hơn, phản ánh những biến động tinh thần của xã hội Việt Nam đương đại.

Diện mạo điện ảnh Việt Nam thời Đổi mới:

Bên cạnh những tham luận về thể loại và ngôn ngữ điện ảnh, PGS.TS Hoàng Cẩm Giang gợi mở một cách đọc mới về phim chiến tranh Việt Nam thông qua lăng kính sinh thái với tham luận Từ giảng đường đến không gian số: Giữ bản sắc Việt trong tư duy sáng tác phim tài liệu của sinh viên thời kỳ mới. Từ thực tiễn giảng dạy và đào tạo, chị cho rằng giá trị cốt lõi của phim tài liệu không nằm ở công nghệ hay kỹ thuật làm phim hiện đại, mà ở khả năng lưu giữ những con người, những câu chuyện và những khoảnh khắc chân thật của đời sống. Nhấn mạnh vai trò của bản sắc dân tộc trong sáng tác, chị khẳng định: “Công nghệ có thể nâng cấp theo từng ngày, nhưng điều giữ cho một bộ phim tài liệu có giá trị lâu bền chính là cái gốc giá trị văn hóa và lịch sử của dân tộc.” Bởi trong thời đại số, nhiều sinh viên điện ảnh có điều kiện tiếp cận công nghệ rất sớm nhưng lại thiếu chiều sâu cảm xúc và vốn sống. Bởi vậy, người làm phim tài liệu không chỉ cần giỏi kỹ thuật mà còn phải biết quan sát, lắng nghe và trân trọng những điều bình dị của cuộc sống, bởi “bản sắc Việt trong phim tài liệu nằm ở hơi thở đời thường giản dị”, từ những con người lao động bình thường, các làng nghề truyền thống đến tình làng nghĩa xóm và những giá trị nhân văn gần gũi.

Từ góc nhìn của một nhà văn và cũng là người từng đi qua chiến tranh, nhà văn Châu La Việt mang đến tham luận Điện ảnh Việt Nam - Từ khát vọng Nghị quyết 80 đến hành trình chinh phục thị trường. Ông xem đây là một “tiếng nói đồng thuận”, ủng hộ tinh thần chủ động, tư duy thị trường và khát vọng đưa điện ảnh Việt trở thành một ngành công nghiệp văn hóa thực thụ. Theo nhà văn Châu La Việt, Nghị quyết 80 mở ra bước chuyển quan trọng khi đặt văn hóa trong quan hệ chặt chẽ với kinh tế và thị trường. Với điện ảnh, một tác phẩm muốn sống được không thể chỉ dừng ở giá trị nghệ thuật, mà phải đến được với khán giả, tạo ra doanh thu và tiếp tục tái đầu tư cho sản xuất. Từ đó, ông nhấn mạnh yêu cầu tháo gỡ điểm nghẽn hợp tác công - tư, trong đó Nhà nước là “bệ đỡ” cho giá trị văn hóa, lịch sử, bản sắc dân tộc, còn tư nhân là lực đẩy về quản trị, phát hành và truyền thông. Đáng chú ý, ông ví mối quan hệ giữa Nhà nước và tư nhân như sự kết hợp giữa “linh hồn” và “cơ thể”: nếu thiếu thị trường, điện ảnh dễ bị “đắp chiếu”, đồng thời nếu chỉ chạy theo thị trường, điện ảnh lại có nguy cơ đánh mất chiều sâu văn hóa.

Mặt khác dưới góc độ từ phía báo chí, nhà báo Đoàn Tuấn nhìn nhận điện ảnh Việt sau Đổi mới là hành trình chuyển đổi mạnh mẽ từ cơ chế bao cấp sang thị trường, kéo theo những thay đổi về cách sản xuất, đề tài, kỹ thuật và vị thế của khán giả. Theo ông, chính cơ chế thị trường đã giúp điện ảnh Việt phát triển đa dạng hơn, hội nhập mạnh mẽ hơn và tạo dựng được một thị trường phòng vé sôi động. Tuy nhiên, tham luận cũng đặt ra một tranh luận lớn của điện ảnh đương đại. Trong bối cảnh quyền lực của thị trường ngày càng lớn, điện ảnh rất dễ trở thành hàng hóa giải trí ngắn hạn. Việc chạy theo doanh thu có thể dẫn đến sự lệ thuộc vào công thức, xem nhẹ kịch bản, thu hẹp không gian sáng tạo của đạo diễn và khiến khán giả dần mất đi thói quen thưởng thức những tác phẩm giàu chiều sâu.

Nhà báo Đoàn Tuấn nhấn mạnh rằng vấn đề không nằm ở việc kiếm tiền, bởi điện ảnh vốn là một ngành công nghiệp cần doanh thu để tồn tại. Điều đáng lo là khi “điện ảnh chỉ còn được đánh giá bằng doanh thu”, bởi khi đó, nền điện ảnh có thể rất sôi động về thương mại nhưng lại “nghèo nàn về chiều sâu văn hóa và nghệ thuật”.

Một vấn đề khác vẫn luôn là chủ đề được nhắc đến và tranh luận trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước được Đạo diễn, NSND Huỳnh Hùng đặt ra là câu chuyện hòa giải, hòa hợp dân tộc trong điện ảnh Việt thời Đổi mới. Theo ông, sau hơn nửa thế kỷ thống nhất đất nước, chiến tranh không chỉ còn là ký ức về thắng lợi hay mất mát, mà còn là vết thương tinh thần cần tiếp tục được nhìn thẳng, đối thoại và hóa giải.

Diện mạo điện ảnh Việt Nam thời Đổi mới:

Từ các phim tài liệu như Tiếng vỹ cầm ở Mỹ Lai, Còn lại với thời gian, Cuộc gặp gỡ sau 48 năm, Tỉnh thức và hóa giải hay Hành trình thống nhất, tham luận cho thấy phim tài liệu Việt đã đi trước trong việc chạm vào những vùng ký ức khó nói, từ sự ăn năn của cựu binh nước ngoài đến những gia đình Việt từng bị chia đôi bởi hai chiến tuyến. Điểm đáng chú ý trong tham luận là quan điểm: hòa giải không có nghĩa là xóa nhòa lịch sử, mà là vượt qua hận thù để cùng nhận ra giá trị của hòa bình, tình thân và sự đoàn kết dân tộc. Bởi như NSND Huỳnh Hùng nhấn mạnh, đất nước đã thống nhất về địa lý hơn nửa thế kỷ nhưng vẫn cần tiếp tục “thống nhất lòng người” sau chiến tranh.

Đạo diễn Lê Hoàng chọn một cách tiếp cận trực diện hơn, sử dụng số liệu thống kê để nhìn về điện ảnh Việt Nam thay vì lý luận đơn thuần. Đạo diễn đặt thị trường Việt Nam bên cạnh Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Thái Lan, Malaysia hay Singapore để thấy rõ điện ảnh Việt đang ở đâu trên bản đồ khu vực.

Những dữ liệu về phòng chiếu, doanh thu, giá vé, độ tuổi khán giả, kinh phí sản xuất hay tỷ lệ phim thua lỗ cho thấy một bức tranh nhiều mặt. Điện ảnh Việt đang có sức bật rõ rệt khi doanh thu tăng nhanh, khán giả trẻ vẫn hào hứng ra rạp, giá vé vẫn ở mức dễ tiếp cận và phim nội địa ngày càng có khả năng cạnh tranh. Nhưng chính các con số ấy cũng chỉ ra mặt trái của thị trường, là việc phim Việt làm nhiều nhưng tỷ lệ thua lỗ vẫn cao, kinh dị chiếm tỷ trọng lớn, kinh phí còn khiêm tốn và không ít tác phẩm bị đào thải nhanh vì chất lượng chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng.

Những con số trong tham luận của đạo diễn Lê Hoàng cho thấy điện ảnh Việt đã có thị trường, có khán giả và có tiềm năng để tạo được sức bật lớn nhưng để sức bật ấy không chỉ dừng ở vài mùa doanh thu tốt, câu chuyện lại quay về một vấn đề nền tảng hơn: cơ chế vận hành của ngành.

Đạo diễn Bùi Thạc Chuyên, với kinh nghiệm làm phim trong nhiều môi trường từ phim nhà nước, phim tư nhân đến phim độc lập, đặt vấn đề này một cách trực diện trong tham luận Đòi hỏi sự đáp ứng tốt hơn của cơ chế để phát triển điện ảnh Việt Nam. Theo ông, điện ảnh là lĩnh vực thay đổi từng ngày, nhưng hệ thống pháp lý, chính sách và cách vận hành ở Việt Nam lại chưa theo kịp tốc độ đó. Ông chỉ ra nghịch lý phim Việt vẫn đang được khán giả ưu tiên nhưng lợi thế ấy phần lớn đến tự nhiên, không phải từ một chính sách hỗ trợ chủ động. Nếu chất lượng sản xuất không được nâng lên, nếu nhà làm phim vẫn thiếu vốn, thiếu quỹ hỗ trợ, thiếu cơ chế kết hợp giữa nguồn lực nhà nước và tư nhân, điện ảnh Việt hoàn toàn có thể đánh mất lợi thế ngay trên sân nhà.

Từ so sánh với Malaysia, nơi có cơ chế hoàn tiền, quỹ hỗ trợ phát triển dự án, hậu kỳ, marketing và phát hành, tham luận cho thấy điều điện ảnh Việt đang thiếu không chỉ là tiền, mà là một hệ sinh thái chính sách đủ linh hoạt. Trong khi đó, Quỹ điện ảnh đã được ghi nhận trong Luật Điện ảnh từ năm 2006 và tiếp tục được nhắc lại trong Luật sửa đổi năm 2022 nhưng đến nay vẫn chưa thể vận hành như kỳ vọng.

Sau những phần phân tích về thị trường, thể chế và chất lượng sáng tác, đạo diễn, NSND Lê Đức Tiến mở rộng vấn đề bằng một cái nhìn tổng quát hơn về hành trình Đổi mới của điện ảnh Việt. Trong tham luận Bứt phá và tỏa sáng trong kỷ nguyên mới, ông cho rằng sau năm 1986, điện ảnh Việt không chỉ thay đổi cách sản xuất hay mô hình quản lý, mà quan trọng hơn là thay đổi hệ tư tưởng sáng tạo: từ tư duy sử thi, tập thể sang tư duy nhân văn, đi sâu vào số phận cá nhân và những mâu thuẫn phức tạp của đời sống. Quan điểm của đạo diễn Lê Đức Tiến cho rằng sức bật của điện ảnh Đổi mới nằm ở việc người nghệ sĩ dám rời khỏi lối kể minh họa, “tô hồng” để bước vào hiện thực phê phán và phản biện nghệ thuật. Từ đó, điện ảnh Việt mở rộng mạnh mẽ về thể loại, phong cách, từ phim thương mại, phim hài, phim chuyển thể văn học đến phim tác giả, phim độc lập. Đáng chú ý, ông nhấn mạnh cuộc chuyển dịch từ câu hỏi “phim nói cái gì” sang “phim nói như thế nào”, coi phong cách và ngôn ngữ điện ảnh là linh hồn của tác phẩm.

Nhìn về tương lai, đạo diễn đặt kỳ vọng vào khả năng hội nhập của điện ảnh Việt nếu biết kết hợp bản sắc dân tộc với ngôn ngữ điện ảnh hiện đại. Câu trả lời cho bài toán đi ra thế giới không nằm ở việc chạy đua kỹ xảo hay quy mô đầu tư, mà ở việc đào sâu vào lịch sử, hiện thực đương đại, văn học và thân phận con người Việt Nam bằng một cách kể mới, bản lĩnh hơn.

Từ nền tảng đó, hội thảo tập trung nhìn lại những chuyển động lớn của điện ảnh Việt Nam trong gần bốn thập niên qua. Các tham luận xoay quanh quá trình chuyển đổi từ bao cấp sang thị trường, sự đổi mới trong ngôn ngữ điện ảnh, vai trò của các thế hệ đạo diễn, mối quan hệ giữa nghệ thuật và thương mại, cũng như vị thế của điện ảnh Việt Nam trong không gian quốc tế.

Một trong những vấn đề đáng chú ý được đặt ra là bài toán cân bằng giữa giá trị nghệ thuật và sức sống thị trường. Sau Đổi mới, điện ảnh Việt Nam không chỉ đối diện với yêu cầu sáng tạo, mà còn phải học cách tồn tại trong một môi trường có khán giả, doanh thu, cạnh tranh và thị hiếu. Đây cũng là câu chuyện vẫn còn nguyên tính thời sự với điện ảnh Việt hiện nay, khi nhiều bộ phim đạt doanh thu cao nhưng tranh luận về chất lượng, bản sắc và chiều sâu nghệ thuật vẫn tiếp tục được đặt ra.

Bên cạnh đó, hội thảo cũng nhìn lại vai trò của các thế hệ làm phim trong việc định hình diện mạo điện ảnh Việt. Từ những đạo diễn gắn với tinh thần Đổi mới đến lớp tác giả trẻ đương đại, mỗi thế hệ đều góp phần mở rộng biên độ biểu đạt của điện ảnh Việt Nam, đồng thời đặt ra những câu hỏi mới về cách kể chuyện, hình tượng con người và bản sắc văn hóa trên màn ảnh.

Không chỉ dừng lại ở quá khứ, hội thảo còn hướng đến những thách thức của hiện tại và tương lai. Trong bối cảnh điện ảnh bước vào kỷ nguyên số, sự phát triển của nền tảng trực tuyến, công nghệ mới, AI, thay đổi thói quen xem phim và nhu cầu hội nhập quốc tế đang buộc điện ảnh Việt phải tiếp tục thích ứng. Câu hỏi đặt ra không chỉ là điện ảnh Việt đã đi được bao xa, mà còn là sẽ đi tiếp như thế nào trong một thị trường biến động nhanh hơn bao giờ hết.

Thông qua hội thảo “Diện mạo điện ảnh Việt Nam thời Đổi mới”, DANAFF IV tiếp tục mở rộng vai trò của mình như một diễn đàn đối thoại nghề nghiệp. Bên cạnh việc trình chiếu và vinh danh tác phẩm, Liên hoan phim còn tạo không gian để nhìn lại lịch sử, nhận diện những giá trị đã hình thành và bàn về hướng phát triển bền vững hơn cho điện ảnh Việt Nam trong giai đoạn mới.

Khai mạc Liên hoan phim Châu Á Đà Nẵng lần thứ Tư (DANAFF IV): Đầy cảm hứng và dấu ấn điện ảnh Khai mạc Liên hoan phim Châu Á Đà Nẵng lần thứ Tư (DANAFF IV): Đầy cảm hứng và dấu ấn điện ảnh
Thảm đỏ khai mạc DANAFF IV: Đà Nẵng rực sáng trong đêm hội điện ảnh châu Á Thảm đỏ khai mạc DANAFF IV: Đà Nẵng rực sáng trong đêm hội điện ảnh châu Á

P.V

Đường dẫn: https://thegioidienanh.vn/dien-mao-dien-anh-viet-nam-thoi-doi-moi-cau-chuyen-qua-goc-nhin-cua-cac-chuyen-gia-88682.html

In bài viết

© Copyright 2022 Hội điện ảnh Việt Nam