(TGĐA) - Trong khuôn khổ Liên hoan phim Quốc tế Tokyo lần thứ 39 (TIFF 2026), Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam (VFDA) phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản tổ chức hội thảo “Điện ảnh Việt Nam trong một châu Á kết nối: Bản sắc văn hóa, sáng tạo và hợp tác quốc tế”. Hai phiên thảo luận tập trung vào việc quảng bá, lưu trữ, phát hành phim Việt Nam ở nước ngoài và kinh nghiệm xây dựng cơ chế hỗ trợ các đoàn làm phim tại địa phương.
|
| |
|
| VFDA giới thiệu DANAFF và tiềm năng bối cảnh làm phim của Quảng Ninh, Hải Phòng tại Tokyo |
Bản sắc văn hóa và câu chuyện Việt Nam trên màn ảnh
Tại hội thảo, TS. Ngô Phương Lan, Chủ tịch VFDA, đặt vấn đề về mối quan hệ giữa bản sắc dân tộc và khả năng hội nhập của điện ảnh Việt Nam. Theo bà, trong bối cảnh công nghệ, phương thức sản xuất và thị hiếu khán giả thay đổi, người làm phim Việt Nam vẫn cần trả lời câu hỏi: Làm thế nào để những câu chuyện mang bản sắc riêng có thể tiếp cận khán giả quốc tế?
Bà cho rằng bản sắc văn hóa không chỉ được thể hiện qua cảnh quan, trang phục hay phong tục, mà còn nằm trong cách con người ứng xử với tình yêu, mất mát, gia đình và những lựa chọn trong cuộc sống. Đây cũng là những chất liệu có khả năng tạo sự đồng cảm với khán giả ở các nền văn hóa khác nhau.
TS. Ngô Phương Lan dẫn chứng bộ phim Bao giờ cho đến tháng Mười của đạo diễn Đặng Nhật Minh. Câu chuyện người vợ giấu tin chồng hy sinh để cha chồng không phải chịu thêm đau đớn cho thấy một hoàn cảnh cụ thể của người Việt Nam nhưng đồng thời đề cập đến những tình cảm phổ quát như tình thân, sự hy sinh và nỗi đau chiến tranh.
![]() |
| Các đại biểu tham dự hội thảo |
Theo Chủ tịch VFDA, việc giữ gìn bản sắc không đồng nghĩa với giới hạn cách thể hiện của nghệ sĩ. Những nhà làm phim trẻ cần có không gian tìm tòi và kể câu chuyện về đất nước bằng góc nhìn riêng. Bên cạnh đó, hợp tác quốc tế cần được xây dựng trên cơ sở tôn trọng sự khác biệt văn hóa, thay vì chỉ tập trung vào nguồn vốn và công nghệ.
![]() |
| TS. Ngô Phương Lan, Chủ tịch VFDA phát biểu |
Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Phạm Quang Hiệu cũng đề cập vai trò của điện ảnh trong quan hệ giữa hai nước. Ông cho rằng điện ảnh có thể giúp công chúng Việt Nam và Nhật Bản hiểu nhau thông qua những câu chuyện và trải nghiệm đời sống. Ba hướng hợp tác được ông đề xuất gồm trao đổi, đào tạo nhân lực sáng tạo; mở rộng hoạt động giới thiệu phim thông qua liên hoan phim và các chương trình chiếu phim; kết nối nhà làm phim, doanh nghiệp và chính quyền địa phương để hỗ trợ sản xuất, phát hành và đồng sản xuất.
![]() |
| Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Phạm Quang Hiệu |
Những vấn đề trong quá trình đưa phim Việt Nam ra nước ngoài
Phiên thảo luận thứ nhất do nhà sản xuất Trần Thị Bích Ngọc điều phối, với sự tham gia của đạo diễn Phan Đăng Di; ông Eijun Sugihara, giám tuyển Kho lưu trữ phim thuộc Thư viện Công cộng thành phố Fukuoka; ông Hiroyuki Tanimoto, đại diện Tổ chức Xúc tiến Công nghiệp Hình ảnh Nhật Bản (VIPO); và ông Takashi Yoshida, phụ trách mua bản quyền quốc tế của Sai Pro.
Các diễn giả tập trung trao đổi về những khâu cần thiết để phim Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế, từ lưu trữ, giới thiệu tác phẩm đến phát hành thương mại và kết nối nhà sản xuất.
Ông Eijun Sugihara cho biết Kho lưu trữ phim Fukuoka hiện bảo quản 69 tác phẩm Việt Nam, được sản xuất từ thập niên 1960 đến thập niên 2020. Từ năm 1991, thành phố Fukuoka tổ chức Liên hoan phim ASIA FOCUS nhằm giới thiệu các tác phẩm điện ảnh châu Á. Hoạt động chiếu phim cũng được kết hợp với việc xây dựng bộ sưu tập lưu trữ, trên cơ sở sự đồng ý của chủ sở hữu tác phẩm.
Theo ông Sugihara, phim của đạo diễn Đặng Nhật Minh từng giúp khán giả Nhật Bản tiếp cận cuộc chiến tranh Việt Nam qua một góc nhìn khác với những hình ảnh họ thường thấy trong điện ảnh Mỹ. Tuy nhiên, phim Việt Nam đương đại vẫn gặp khó khăn về cơ hội trình chiếu, khiến khán giả Nhật Bản chưa có nhiều điều kiện tìm hiểu sự đa dạng của nền điện ảnh Việt Nam.
Đạo diễn Phan Đăng Di cho biết ông đã vận động các nhà làm phim trong nước gửi tác phẩm tới Kho lưu trữ phim Fukuoka. Trong khoảng 5-6 năm, mỗi năm có khoảng 6-7 bộ phim Việt Nam được gửi tới đây. Theo ông, việc hợp tác với các tổ chức lưu trữ và giới thiệu phim giúp tác phẩm Việt Nam duy trì sự hiện diện tại nước ngoài, đồng thời tạo cơ hội để khán giả tiếp cận nhiều giai đoạn và phong cách sáng tác khác nhau.
Một vấn đề khác được thảo luận là khả năng phát hành phim Việt Nam tại các thị trường cụ thể. Ông Takashi Yoshida chia sẻ về quyết định mua bản quyền phát hành Địa đạo: Mặt trời trong bóng tối tại Nhật Bản sau khi bộ phim được tuyển chọn tại Liên hoan phim Quốc tế Tokyo năm trước.
![]() |
| Địa đạo: Mặt trời trong bóng tối được phát hành tại Nhật Bản |
Sau khi trực tiếp xem phim và gặp đạo diễn Bùi Thạc Chuyên, ông nhận thấy tác phẩm có thể tiếp cận nhiều nhóm khán giả hơn đối tượng thường quan tâm đến phim chiến tranh. Theo ông Yoshida, khán giả Nhật Bản đang chú ý nhiều hơn đến các tác phẩm đến từ Đông Nam Á. Những câu chuyện về gia đình, phong tục, đời sống và sự khác biệt văn hóa cũng có thể trở thành yếu tố thu hút người xem.
Ở góc độ kết nối sản xuất, ông Hiroyuki Tanimoto cho rằng các nhà sản xuất Việt Nam và Nhật Bản cần có thêm cơ hội gặp gỡ, tìm hiểu thị trường và phương thức vận hành của nhau. VIPO có thể hỗ trợ thông qua các chương trình trao đổi nhà sản xuất, đào tạo và kết nối với những liên hoan phim quốc tế.
Các ý kiến tại phiên thảo luận cho thấy việc phát hành phim ra nước ngoài không chỉ phụ thuộc vào chất lượng tác phẩm. Khả năng tiếp cận đối tác, cơ hội trình chiếu, hiểu biết về thị trường và kế hoạch quảng bá cũng là những yếu tố cần được tính đến.
Hải Phòng và Quảng Ninh đề xuất phối hợp hỗ trợ đoàn phim
Phiên thảo luận thứ hai chuyển sang vấn đề xây dựng điều kiện sản xuất tại địa phương, với sự tham gia của đại diện Hải Phòng, Quảng Ninh và các chuyên gia điện ảnh Nhật Bản, quốc tế.
Bà Ruriko Sekine, Tổng Thư ký Japan Film Commission (JFC), cho biết Nhật Bản hiện có khoảng 400 Ủy ban Điện ảnh, đóng vai trò hỗ trợ các đoàn phim trong việc tìm kiếm địa điểm, liên hệ cơ quan chức năng, thực hiện thủ tục cấp phép và kết nối dịch vụ tại địa phương.
Theo bà, hoạt động làm phim có thể mang lại lợi ích kinh tế cho địa phương ngay trong quá trình sản xuất, thông qua nhu cầu lưu trú, ăn uống, vận chuyển và thuê thiết bị. Sau khi bộ phim phát hành, những địa điểm xuất hiện trên màn ảnh còn có thể được khai thác để phát triển du lịch.
Bà cũng đề cập việc xây dựng bản đồ địa điểm quay, tổ chức các tour tham quan theo dấu phim và phối hợp với nhà sản xuất trong hoạt động quảng bá. Tuy nhiên, việc sử dụng hình ảnh phim và diễn viên cần được thực hiện trên cơ sở quyền sử dụng phù hợp. Sự tham gia của cộng đồng dân cư cũng là yếu tố cần thiết để duy trì hoạt động hỗ trợ đoàn phim.
Từ kinh nghiệm làm phim tại Việt Nam, nhà quay phim, đồng sản xuất Sven Zellner đánh giá cao khả năng thích ứng của các cộng sự Việt Nam, nhưng cho rằng điều kiện sản xuất của những đoàn phim quy mô nhỏ chưa phản ánh đầy đủ yêu cầu của các dự án lớn. Những hoạt động như phong tỏa đường phố, vận chuyển thiết bị và phối hợp nhiều cơ quan đòi hỏi đầu mối hỗ trợ rõ ràng.
Đại diện Quảng Ninh, bà Nguyễn Thị Hạnh cho biết địa phương có lợi thế về cảnh quan biển đảo, vịnh Hạ Long, Yên Tử, hệ thống di tích và di sản văn hóa. Cùng với đó là hạ tầng giao thông, sân bay quốc tế, cảng biển quốc tế và hơn 1.600 cơ sở lưu trú. Quảng Ninh đang nghiên cứu việc rút gọn thủ tục hành chính, hỗ trợ cấp phép và các hình thức hỗ trợ chi phí ăn ở, đi lại cho đoàn phim đến khảo sát, sản xuất.
![]() |
Trong khi đó, ông Đào Trọng Đức, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng, giới thiệu những lợi thế của thành phố với không gian đô thị cảng, phố cổ, các công trình kiến trúc và nhà ga được bảo tồn từ đầu thế kỷ XX. Những di sản văn hóa như ca trù và tín ngưỡng thờ Mẫu cũng có thể trở thành chất liệu cho các dự án phim tài liệu, lịch sử và âm nhạc.
Tại phiên thảo luận, bà Nguyễn Thị Hạnh đề xuất mô hình liên kết “Hai địa phương, một điểm đến”, trong đó Hải Phòng và Quảng Ninh phối hợp giới thiệu hệ thống bối cảnh quay. Theo đề xuất, các đoàn phim có thể khai thác không gian đô thị, cảng biển tại Hải Phòng, sau đó di chuyển đến Quảng Ninh để ghi hình cảnh quan thiên nhiên, biển đảo và các di sản văn hóa.
Hai địa phương cũng có thể nghiên cứu xây dựng danh mục chung về dịch vụ hậu cần điện ảnh, bao gồm đơn vị vận tải, nhà cung cấp thiết bị, nhân lực và diễn viên quần chúng. Việc phối hợp các đầu mối cấp phép, khảo sát, vận chuyển thiết bị và bảo đảm an ninh, y tế cũng được đặt ra nhằm giảm thời gian và chi phí tổ chức sản xuất.
Cần cụ thể hóa các đề xuất hợp tác
Qua hai phiên thảo luận, các vấn đề được đặt ra không chỉ nằm ở hoạt động quảng bá phim Việt Nam tại nước ngoài mà còn liên quan đến điều kiện để duy trì hoạt động sản xuất và phát triển thị trường. Kinh nghiệm từ Nhật Bản cho thấy việc hỗ trợ đoàn phim cần có tổ chức đầu mối, cơ chế phối hợp và sự tham gia của các dịch vụ địa phương. Trong khi đó, việc đưa phim Việt Nam ra thị trường quốc tế cần được thực hiện thông qua các hoạt động lưu trữ, giới thiệu, phát hành và kết nối nhà sản xuất.
Đối với VFDA, Liên hoan phim châu Á Đà Nẵng (DANAFF) là một trong những hoạt động được định hướng để kết nối nhà làm phim, giới thiệu tác phẩm và phát triển các chương trình đào tạo, hỗ trợ tài năng trẻ cũng như kết nối công nghiệp điện ảnh.
Tại hội thảo, đại diện Hải Phòng và Quảng Ninh cũng đã giới thiệu tiềm năng bối cảnh, đồng thời đưa ra đề xuất phối hợp trong hỗ trợ sản xuất. Tuy nhiên, để các nội dung này được triển khai, những vấn đề về đầu mối phụ trách, thủ tục, dịch vụ hậu cần và cơ chế hỗ trợ vẫn cần được cụ thể hóa.
Hội thảo là dịp để các cơ quan, tổ chức và nhà làm phim Việt Nam, Nhật Bản trao đổi kinh nghiệm, xác định những lĩnh vực có thể hợp tác. Việc các đề xuất được chuyển thành chương trình cụ thể sẽ là cơ sở để đánh giá hiệu quả của hoạt động kết nối điện ảnh giữa hai nước trong thời gian tới.
Anh Vũ